Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    XQ3vui_trung_thu.flv Kiniem.jpg

    Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Bài 15. Chiếc lược ngà

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Thanh Thu
    Ngày gửi: 21h:01' 23-11-2023
    Dung lượng: 47.0 MB
    Số lượt tải: 21
    Số lượt thích: 0 người
    Tiết 53-63:
    Chủ đề Truyện hiện đại

    23/11/2023

    BÙI ANH THƯ

    Văn bản:
    CHIẾC LƯỢC NGÀ
    ( Nguyễn Quang Sáng)

    NỘI DUNG BÀI HỌC

    I. Giới thiệu chung
    II. Đọc - hiểu văn bản

    1. Tác giả
    - Nguyễn Quang Sáng ( 1932- 2014)
    - Quê quán: Huyện Chợ Mới, tỉnh An
    Giang
    - Đề tài sáng tác: Hầu như chỉ viết về con
    người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến
    cũng như sau hòa bình.
    - Phong cách: Văn ông giản dị, mộc mạc
    nhưng sâu sắc, đậm đà chất Nam Bộ
    - Ông thành công ở nhiều thể loại: truyện
    ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim …

    Tác giả Nguyên An nhận xét:
    “Truyện ngắn của Nguyễn
    Quang Sáng thường hấp dẫn
    người đọc bằng những tình
    huống bất ngờ mà tự nhiên
    hợp lý, bằng mạch kể chậm
    rãi, từ tốn mà đượm chất xung
    đột của kịch. Ngôn ngữ Nam
    bộ trong sáng tác của ông có
    chỗ vừa phải, có chỗ đậm đặc
    song vẫn dễ gần”.

    SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC
    • Truyện ngắn: Con chim vàng (1957), Chiếc lựợc ngà (1966)…
    • Truyện vừa: Câu chuyện bên trận địa pháo (1966), Cái áo thằng hinh rơm
    (1975)…
    • Tiểu thuyết: Nhật kí người ở lại (1962), Dòng sông thơ ấu (1985)…
    • Kịch bản phim: Mùa gió chướng (1977), Cánh đồng hoang (1978)…

    2. Tác phẩm
    Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn “ Chiếc lược ngà” được
    viết năm 1966, khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam
    Bộ cũng là thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
    của dân tộc đang diễn ra ác liệt.
    Nhà văn tâm sự:
    “ Năm 1966 tôi từ Miền Bắc về Miền Nam đến vùng Đồng Tháp Mười mênh
    mông nước trắng. Chúng tôi theo ghe vào sâu trong rừng và sống tại một nhà
    sàn treo trên cây. Lúc đó đoàn giao liên đưa chúng tôi đều là nữ. Tôi rất có ấn
    tượng với câu chuyện của cô giao liên có chiếc lược ngà trắng. Sau khi nghe
    cô giao liên kể câu chuyện tôi ngồi một ngày một đêm là hoàn thành tác
    phẩm”.
    (Văn 9 không khó)

    Đọc
    Hướng dẫn cách đọc: Giọng đọc chậm, sâu lắng,
    chú ý phân biệt lời kể và lời của nhân vật…

    Văn bản tóm tắt
    Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến lúc bé Thu chưa đầy
    một tuổi, mãi đến khi con gái tám tuổi, ông mới có dịp về
    thăm nhà, thăm con. Nhưng bé Thu không nhận ông là ba,
    đối xử với ông như một người xa lạ. Đến lúc Thu nhận ra
    ba tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc
    ông Sáu phải trở về đơn vị. Ở khu căn cứ, ông dồn hết tình
    yêu thương con làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng
    con. Cây lược hoàn thành ông chưa kịp trao cho con thì
    ông đã hy sinh.

    Thảo luận cặp đôi
    Yêu cầu: Hãy xác định:
    1, Thể loại của văn bản.
    2, Phương thức biểu đạt chính của văn bản.
    3, Ngôi kể được sử dụng trong văn bản.
    4, Tình huống truyện và bố cục của văn bản.

    Thể loại: Truyện ngắn
    Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
    Ngôi kể: Ngôi thứ nhất (xưng tôi, người kể là bác Ba - người bạn thân, người
    hàng xóm, người đồng đội của ông Sáu, cũng là người chứng kiến câu chuyện
    của cha con ông Sáu) – Điểm nhìn ngoài

    Tình huống truyện:
    - Tình huống 1: Sau tám năm đi kháng chiến ông Sáu về thăm nhà, bé Thu
    không nhận ông là cha, khi con nhận cha thì ông Sáu phải lên đường vào chiến
    trường.
    -Tình huống 2: Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn hết tình yêu con làm cây lược ngà
    tặng con, chưa kịp gặp con để trao cây lược thì ông Sáu hi sinh.
    =>Tình huống truyện đầy kịch tính chứa đựng nhiều yếu tố bất ngờ. Đó là những
    tình huống ngẫu nhiên, phổ biến, éo le mà chúng ta thường gặp trong chiến tranh .

    Bố cục
    • “Từ đầu…tuột xuống”: Diễn biến
    tâm lí và tình cảm của bé Thu
    trong lần ông Sáu về thăm nhà.

    Phần
    1

    Phần
    2

    • Phần còn lại: Tình cha con
    sâu nặng và cao đẹp của ông
    Sáu.

    CÂU HỎI THẢO LUẬN NHÓM
    Nhóm 1
    - Câu 1: Tìm những chi tiết biểu
    thị thái độ và hành động của bé
    Thu trong giây phút đầu tiên
    gặp ông Sáu -sgk/T 195-196 từ
    “Xuồng vào bến…như bị gãy”
    - Câu 2: Nhận xét về thái độ và
    hành động của bé Thu?
    - Câu 3: Qua các chi tiết, tâm
    trạng nào của bé Thu được bộc
    lộ?

    Nhóm 2
    -Câu 1: Tìm những chi tiết biểu
    thị thái độ và hành động của bé
    Thu trong ba ngày ông Sáu ở
    nhà sgk/T 195-196 từ “Vì
    đường xa… không muốn bắt nó
    về”
    - Câu 2: Nhận xét về thái độ và
    hành động của bé Thu ?
    - Câu 3: Qua các chi tiết, tính
    cách nào của bé Thu được bộc
    lộ?

     Anh bước vội vàng với những bước dài, rồi dừng lại kêu to:
    - Thu! Con.
    Vừa lúc ấy, tôi đã đến gần anh. Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ
    rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh. Anh vừa
    bước, vừa khom người đưa tay đón chờ. Nghe gọi, con bé giật mình, tròn
    mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không ghìm nổi xúc động.
    Mỗi lần bị xúc động, vết thẹo dài bên má phải lại đỏ ửng lên, giần giật,
    trông rất dễ sợ. Với vẻ xúc động ấy và hai tay vẫn đưa về phía trước, anh
    chầm chậm bước tới, giọng lặp bặp run run:
    - Ba đây con!
    - Ba đây con!
    Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai, mặt
    nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: "Má! Má". Còn anh, anh
    đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông
    thật đáng thương, và hai tay buông xuống như bị gãy.

    - Nghe gọi, “Thu!
    Con!” con bé

    giật mình
    tròn mắt nhìn
    ngơ ngác, lạ lùng

    - Nghe xưng:
    “Ba đây con!
    Ba đây con!”

    ->Ngạc nhiên,
    bất ngờ

    Thấy lạ,mặt tái đi
    Vụt chạy, kêu thét “Má! Má!”

    => Tâm trạng bé Thu bất ngờ, lo lắng, sợ hãi.

    -> Ngờ
    vực, lo
    lắng,
    sợ hãi

    Suốt ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con. Nhưng càng vỗ về con bé càng đẩy ra. Anh
    mong được nghe một tiếng "ba" của con bé, nhưng con bé chẳng bao giờ chịu gọi. 
    ... Anh Sáu vẫn ngồi im, giả vờ không nghe, chờ nó gọi "ba vô ăn cơm". Con bé cứ đứng trong bếp nói
    vọng ra:
    - Cơm chín rồi! - Anh cũng không quay lại.
    Con bé bực quá, quay lại mẹ và bảo:
    - Con kêu rồi mà người ta không nghe.
    Anh quay lại nhìn con vừa khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh
    phải cười vậy thôi. Bữa sau, đang nấu cơm thì mẹ nó chạy đi mua thức ăn. Mẹ nó dặn, ở nhà có gì cần thì
    gọi ba giúp cho. Nó không nói không rằng, cứ lui cui dưới bếp. Nghe nồi cơm sôi, nó giở nắp, lấy đũa bếp
    sơ qua - nồi cơm hơi to, nhắm không thể nhắc xuống để chắt nước được, đến lúc đó nó mới nhìn lên anh
    Sáu. Tôi nghĩ thầm, con bé đang bị dồn vào thế bí, chắc nó phải gọi ba thôi. Nó nhìn dáo dác một lúc rồi
    kêu lên:
    - Cơm sôi rồi, chắt nước gùm cái! - Nó cũng lại nói trổng.

    Nó như không để ý đến câu nói của tôi, nó lại kêu lên:
    - Cơm sôi rồi, nhão bây giờ.

    Trong bữa cơm đó, anh Sáu gắp một cái trứng cá to vàng để vào cái chén nó. Nó liền lấy đũa xoi vào chén,
    để đó rồi bất thần hất cái trứng ra, cơm văng tung tóe cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ, anh vung
    tay đánh vào mông nó và hét lên:
    - Sao mày cứng đầu quá vậy, hả?

    Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào trong
    chén, rồi lẳng lặng đứng dậy, bước ra khỏi mâm…nó nhảy xuống xuồng, mở lòi tói, cố làm cho dây lòi tói
    khua rổn rảng, khua thật to, rồi lấy dầm bơi qua sông…

    Cử chỉ: anh Sáu càng vỗ về -> con bé càng đẩy ra

    Trong 3
    ngày
    ông Sáu
    ở nhà

    Thái độ:: anh mong được nghe một tiếng gọi “ba”
    nhưng con bé không bao giờ chịu gọi.
    Lời nói: + Khi mẹ bắt mời ông Sáu ăn cơm
    (vô ăn cơm! cơm chín rồi/ Con nói rồi
    mà người ta không nghe )
    + Khi cơm sôi :
    (cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái!; cơm sôi rồi,
    nhão bây giờ!; không gọi ba)
    Hành động:
    + Khi cơm sôi: múc từng vá nước
    + Trong bữa cơm: hất tung cái trứng cá,
    cơm văng tung tóe, im lặng gắp trứng
    vào bát
    + Khi bị đánh: bỏ về nhà ngoại

    lạnh
    lùng, thờ
    ơ, xa
    cách

    Nói
    trống
    không

    Hành
    động
    thiếu
    lễ độ

    + Khắc họa nhân vật qua lời nói, hành động.
    -> Phản ứng mạnh mẽ, thể hiện sự cương quyết chối từ , cự tuyệt không
    nhận ba.
    => Thu có cá tính mạnh mẽ, thông minh, ương ngạnh, bướng bỉnh, tình
    yêu ghét rạch ròi.

    Luyện tập-Vận dụng
    Yêu cầu: Trình bày hậu quả của cuộc chiến tranh
    chống Mĩ đối với môi trường ở Việt Nam.

    HẸN GẶP LẠI CÁC EM
    TRONG TIẾT HỌC SAU!
     
    Gửi ý kiến